1.
Nguyên
tắc
kế
toán
a)
Tài
khoản
này
dùng
để
phản
ánh
số
hiện
có
và
tình
hình
biến
động
tăng,
giảm
nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ.
Chỉ
ghi
tăng
nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
khi
đơn
vị
mua
sắm
TSCĐ,
đầu
tư
xây
dựng
mới
hoặc
nâng
cấp,
cải
tạo,
mở
rộng
được
ghi
tăng
nguyên
giá
TSCĐ
bằng
nguồn
kinh
phí
sự
nghiệp,
kinh
phí
dự
án
được
cấp
từ
NSNN
hoặc
nhận
viện
trợ,
tài
trợ,
đưa
vào
sử
dụng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án.
b)
Ghi
giảm
nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
khi
tính
hao
mòn
TSCĐ
hoặc
nhượng
bán,
thanh
lý,
phát
hiện
thiếu
TSCĐ
khi
kiểm
kê,
nộp
trả
Nhà
nước
hoặc
điều
chuyển
TSCĐ
cho
đơn
vị
khác
theo
lệnh
của
cấp
trên,
của
Nhà
nước.
2.
Kết
cấu
và
nội
dung
phản
ánh
của
tài
khoản
466
-
Nguồn
kinh
phí
hình
thành
tài
sản
cố
định
Bên
Nợ:
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
giảm,
gồm:
-
Nộp
trả
Nhà
nước
hoặc
điều
chuyển
TSCĐ
dùng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,hoạt
động
dự
án
theo
quyết
định
của
cơ
quan
Nhà
nước
hoặc
cấp
có
thẩm
quyền;
-
Tính
hao
mòn
TSCĐ
dùng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án;
-
Nhượng
bán,
thanh
lý
TSCĐ,
phát
hiện
thiếu
TSCĐ
dùng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án;
-
Giá
trị
còn
lại
của
TSCĐ
giảm
do
đánh
giá
lại.
Bên
Có:
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
tăng,
gồm:
-
Đầu
tư,
mua
sắm
TSCĐ
hoàn
thành
đưa
vào
sử
dụng
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án:
-
Được
cấp
kinh
phí
sự
nghiệp,
kinh
phí
dự
án,
được
viện
trợ
không
hoàn
lại
bằng
TSCĐ;
-
Giá
trị
còn
lại
của
TSCĐ
tăng
do
đánh
giá
lại.
Số
dư
bên
Có:
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
hiện
có
ở
đơn
vị.
3.
Phương
pháp
kế
toán
một
số
giao
dịch
kinh
tế
chủ
yếu
a)
Trường
hợp
được
Ngân
sách
Nhà
nước,
đơn
vị
cấp
trên
cấp
kinh
phí
bằng
TSCĐ
hoặc
dùng
kinh
phí
sự
nghiệp,
dự
án,
viện
trợ
không
hoàn
lại
để
mua
sắm
TSCĐ,
đầu
tư
XDCB,
khi
việc
mua
TSCĐ,
đầu
tư
XDCB
hoàn
thành
tài
sản
được
đưa
vào
sử
dụng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án,
ghi:
Nợ
TK
211
-
TSCĐ
hữu
hình
Nợ
TK
213
-
TSCĐ
vô
hình
Có
các
TK
111,
112,
241,
331,
461,...
Đồng
thời
ghi:
Nợ
TK
161
-
Chi
sự
nghiệp
Có
TK
466
-
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ.
b)
Cuối
kỳ
kế
toán
năm
tính
hao
mòn
TSCĐ
đầu
tư,
mua
sắm
bằng
nguồn
kinh
phí
sự
nghiệp,
kinh
phí
dự
án
dùng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án,
ghi:
Nợ
TK
466
-
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
Có
TK
214
-
Hao
mòn
TSCĐ.
c)
Khi
nhượng
bán,
thanh
lý
TSCĐ
dùng
cho
hoạt
động
sự
nghiệp,
dự
án:
-
Ghi
giảm
TSCĐ
nhượng
bán,
thanh
lý:
Nợ
TK
466
-
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
(giá
trị
còn
lại)
Nợ
TK
214
-
Hao
mòn
TSCĐ
(giá
trị
hao
mòn)
Có
TK
211
-
TSCĐ
hữu
hình
(nguyên
giá)
Có
TK
213
-
TSCĐ
vô
hình
(nguyên
giá).
-
Số
thu,
các
khoản
chi
và
chênh
lệch
thu,
chi
về
nhượng
bán,
thanh
lý
TSCĐ
đầu
tư
bằng
nguồn
kinh
phí
sự
nghiệp,
kinh
phí
dự
án,
được
xử
lý
và
hạch
toán
theo
quyết
định
thanh
lý,
nhượng
bán
TSCĐ
của
cấp
có
thẩm
quyền.
d)
Kế
toán
chuyển
giao
tài
sản
là
các
công
trình
phúc
lợi:
Đối
với
tài
sản
là
công
trình
phúc
lợi
được
đầu
tư
bằng
nguồn
vốn
ngân
sách
Nhà
nước,
nếu
doanh
nghiệp
cổ
phần
hóa
từ
doanh
nghiệp
100%
vốn
nhà
nước
tiếp
tục
sử
dụng
cho
mục
đích
kinh
doanh,
kế
toán
ghi:
Nợ
TK
466
-
Nguồn
kinh
phí
đã
hình
thành
TSCĐ
Có
TK
411
-
Vốn
đầu
tư
của
chủ
sở
hữu.
Điều
78.
Nguyên
tắc
kế
toán
các
khoản
doanh
thu
1.
Doanh
thu
là
lợi
ích
kinh
tế
thu
được
làm
tăng
vốn
chủ
sở
hữu
của
doanh
nghiệp
ngoại
trừ
phần
đóng
góp
thêm
của
các
cổ
đông.
Doanh
thu
được
ghi
nhận
tại
thời
điểm
giao
dịch
phát
sinh,
khi
chắc
chắn
thu
được
lợi
ích
kinh
tế,
được
xác
định
theo
giá
trị
hợp
lý
của
các
khoản
được
quyền
nhận,
không
phân
biệt
đã
thu
tiền
hay
sẽ
thu
được
tiền.
2.
Doanh
thu
và
chi
phí
tạo
ra
khoản
doanh
thu
đó
phải
được
ghi
nhận
đồng
thời
theo
nguyên
tắc
phù
hợp.
Tuy
nhiên
trong
một
số
trường
hợp,
nguyên
tắc
phù
hợp
có
thể
xung
đột
với
nguyên
tắc
thận
trọng
trong
kế
toán,
thì
kế
toán
phải
căn
cứ
vào
chất
bản
chất
và
các
Chuẩn
mực
kế
toán
để
phản
ánh
giao
dịch
một
cách
trung
thực,
hợp
lý.
-
Một
hợp
đồng
kinh
tế
có
thể
bao
gồm
nhiều
giao
dịch.
Kế
toán
phải
nhận
biết
các
giao
dịch
để
áp
dụng
các
điều
kiện
ghi
nhận
doanh
thu
phù
hợp
với
quy
định
của
Chuẩn
mực
kế
toán
“Doanh
thu”.
-
Doanh
thu
phải
được
ghi
nhận
phù
hợp
với
bản
chất
hơn
là
hình
thức
hoặc
tên
gọi
của
giao
dịch
và
phải
được
phân
bổ
theo
nghĩa
vụ
cung
ứng
hàng
hóa,
dịch
vụ.
+
Ví
dụ
khách
hàng
chỉ
được
nhận
hàng
khuyến
mại
khi
mua
sản
phẩm
hàng
hóa
của
đơn
vị
(như
mua
2
sản
phẩm
được
tặng
thêm
một
sản
phẩm)
thì
bản
chất
giao
dịch
là
giảm
giá
hàng
bán,
sản
phẩm
tặng
miễn
phí
cho
khách
hàng
về
hình
thức
được
gọi
là
khuyến
mại
nhưng
về
bản
chất
là
bán
vì
khách
hàng
sẽ
không
được
hưởng
nếu
không
mua
sản
phẩm.
Trường
hợp
này
giá
trị
sản
phẩm
tặng
cho
khách
hàng
được
phản
ánh
vào
giá
vốn
và
doanh
thu
tương
ứng
với
giá
trị
hợp
lý
của
sản
phẩm
đó
phải
được
ghi
nhận.
+
Ví
dụ:
Trường
hợp
bán
sản
phẩm,
hàng
hóa
kèm
theo
sản
phẩm,
hàng
hóa,
thiết
bị
thay
thế
(phòng
ngừa
trong
những
trường
hợp
sản
phẩm,
hàng
hóa
bị
hỏng
hóc)
thì
phải
phân
bổ
doanh
thu
cho
sản
phẩm,
hàng
hóa
được
bán
và
sản
phẩm
hàng
hóa,
thiết
bị
giao
cho
khách
hàng
để
thay
thế
phòng
ngừa
hỏng
hóc.
Giá
trị
của
sản
phảm,
hàng
hóa,
thiết
bị
thay
thế
được
ghi
nhận
vào
giá
vốn
hàng
bán.
-
Đối
với
các
giao
dịch
làm
phát
sinh
nghĩa
vụ
của
người
bán
ở
thời
điểm
hiện
tại
và
trong
tương
lai,
doanh
thu
phải
được
phân
bổ
theo
giá
trị
hợp
lý
của
từng
nghĩa
vụ
và
được
ghi
nhận
khi
nghĩa
vụ
đã
được
thực
hiện.
3.
Doanh
thu,
lãi
hoặc
lỗ
chỉ
được
coi
là
chưa
thực
hiện
nếu
doanh
nghiệp
còn
có
trách
nhiệm
thực
hiện
các
nghĩa
vụ
trong
tương
lai
(trừ
nghĩa
vụ
bảo
hành
thông
thường)
và
chưa
chắc
chắn
thu
được
lợi
ích
kinh
tế;
Việc
phân
loại
các
khoản
lãi,
lỗ
là
thực
hiện
hoặc
chưa
thực
hiện
không
phụ
thuộc
vào
việc
đã
phát
sinh
dòng
tiền
hay
chưa.
Các
khoản
lãi,
lỗ
phát
sinh
do
đánh
giá
lại
tài
sản,
nợ
phải
trả
không
được
coi
là
chưa
thực
hiện
do
tại
thời
điểm
đánh
giá
lại,
đơn
vị
đã
có
quyền
đối
với
tài
sản
và
đã
có
nghĩa
vụ
nợ
hiện
tại
đối
với
các
khoản
nợ
phải
trả,
ví
dụ:
Các
khoản
lãi,
lỗ
phát
sinh
do
đánh
giá
lại
tài
sản
mang
đi
góp
vốn
đầu
tư
vào
đơn
vị
khác,
đánh
giá
lại
các
tài
sản
tài
chính
theo
giá
trị
hợp
lý,
chênh
lệch
tỷ
giá
do
đánh
giá
lại
các
khoản
mục
tiền
tệ
có
gốc
ngoại
tệ…
đều
được
coi
là
đã
thực
hiện.
4.
Doanh
thu
không
bao
gồm
các
khoản
thu
hộ
bên
thứ
ba,
ví
dụ;
-
Các
loại
thuế
gián
thu
(thuế
GTGT,
thuế
xuất
khẩu,
thuế
tiêu
thụ
đặc
biệt,
thuế
bảo
vệ
môi
trường)
phải
nộp;
-
Số
tiền
người
bán
hàng
đại
lý
thu
hộ
bên
chủ
hàng
do
bán
hàng
đại
lý;
-
Các
khoản
phụ
thu
và
phí
thu
thêm
ngoài
giá
bán
đơn
vị
không
được
hưởng;
-
Các
trường
hợp
khác.
Trường
hợp
các
khoản
thuế
gián
thu
phải
nộp
mà
không
tách
riêng
ngay
được
tại
thời
điểm
phát
sinh
giao
dịch
thì
để
thuận
lợi
cho
công
tác
kế
toán,
có
thể
ghi
nhận
doanh
thu
trên
sổ
kế
toán
bao
gồm
cả
số
thuế
gián
thu
nhưng
định
kỳ
kế
toán
phải
ghi
giảm
doanh
thu
đối
với
số
thuế
gián
thu
phải
nộp.
Tuy
nhiên,
khi
lập
Báo
cáo
tài
chính
kế
toán
bắt
buộc
phải
xác
định
và
loại
bỏ
toàn
bộ
số
thuế
gián
thu
phải
nộp
ra
khỏi
các
chỉ
tiêu
phản
ánh
doanh
thu
gộp.
5.
Thời
điểm,
căn
cứ
để
ghi
nhận
doanh
thu
kế
toán
và
doanh
thu
tính
thuế
có
thể
khác
nhau
tùy
vào
từng
tình
huống
cụ
thể.
Doanh
thu
tính
thuế
chỉ
được
sử
dụng
để
xác
định
số
thuế
phải
nộp
theo
luật
định;
Doanh
thu
ghi
nhận
trên
sổ
kế
toán
để
lập
Báo
cáo
tài
chính
phải
tuân
thủ
các
nguyên
tắc
kế
toán
và
tùy
theo
từng
trường
hợp
không
nhất
thiết
phải
bằng
số
đã
ghi
trên
hóa
đơn
bán
hàng.
6.
Khi
luân
chuyển
sản
phẩm,
hàng
hóa,
dịch
vụ
giữa
các
đơn
vị
hạch
toán
phụ
thuộc
trong
nội
bộ
doanh
nghiệp,
tùy
theo
đặc
điểm
hoạt
động,
phân
cấp
quản
lý
của
từng
đơn
vị,
doanh
nghiệp
có
thể
quyết
định
việc
ghi
nhận
doanh
thu
tại
các
đơn
vị
nếu
có
sự
gia
tăng
trong
giá
trị
sản
phẩm,
hàng
hóa
giữa
các
khâu
mà
không
phụ
thuộc
vào
chứng
từ
kèm
theo
(xuất
hóa
đơn
hay
chứng
từ
nội
bộ).
Khi
lập
Báo
cáo
tài
chính
tổng
hợp,
tất
cả
các
khoản
doanh
thu
giữa
các
đơn
vị
trong
nội
bộ
doanh
nghiệp
đều
phải
được
loại
trừ.
7.
Doanh
thu
được
ghi
nhận
chỉ
bao
gồm
doanh
thu
của
kỳ
báo
cáo.
Các
tài
khoản
phản
ánh
doanh
thu
không
có
số
dư,
cuối
kỳ
kế
toán
phải
kết
chuyển
doanh
thu
để
xác
định
kết
quả
kinh
doanh.
Ý kiến bạn đọc